Phát âm trong Tiếng Anh

Phát âm trong Tiếng Anh

Theo tôi điều quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ là việc học liên tục. Nhiều người nghĩ rằng vì họ đã gặp hay đã nghe một từ 1 lần, hay 10 lần rồi thì họ đã thực sự biết nói và biết cách sử dụng nó. Việc sẵn sàng lặp đi lặp lại một từ cho đến khi nào ta thực sự sử dụng chúng một cách thành thạo mà không cần nghĩ ngợi gì đến chúng nữa là cần thiết. Bởi nếu chỉ đơn giản học thuộc lòng những danh sách từ vững không có nghĩa là ta sẽ biết ngôn ngữ đó. Học để biết một ngôn ngữ đòi hỏi nhiều hơn thế. Trong những giai đoạn đầu của việc học tiếng Anh, tôi nghĩ việc học cách phát âm rất quan trọng. Bởi việc học hệ thống phiên âm của tiếng Anh là không dễ dàng chút nào.

Trong tiếng Anh có sự khác biệt giữa cách phát âm và cách viết. Đôi khi một từ có nhiều chữ cái hơn là âm mà nó có. Nhưng có lúc, một từ lại có nhiều âm hơn số các chữ cái mà nó có. Ví dụ từ knee4 chữ cái (k, n, e, e) nhưng chỉ có hai âm/niː/ (/n/, / iː/) hay từ expel 5 chữ cái (e, x, p, e, l) nhưng lại có 6 âm /ɪkˈspel/ (/ɪ/, /k/, /s/, /p/, /e/, /l/).

Cách phát âm trong tiếng Anh làm cho tôi bối rối khá nhiều bởi vì cùng một mẫu tự lại có nhiều cách phát âm khác nhau. Chẳng hạn như mẫu tự a trong bath được phát âm là /ɑː/ /bɑːθ/ nhưng được đọc là /eɪ/ trong bathe /beɪð/. Hay mẫu tự u trong product thì phát âm là /ʌ/ /ˈprɒdʌkt/ nhưng lại được phát âm thành /ju:/ trong produce /prəˈdju:s/. Nhị trùng âm ou trong south /saʊθ/ nhưng lại được phát âm là /ʌ/ trong southern /ˈsʌðən/. Một số trường hợp mặc dù cùng một từ nhưng tùy vào vai trò của nó trong câu thì sẽ có cách đọc khác nhau ví dụ như a record được đọc là /ə ˈrekɔːd/ nhưng to record lại được đọc là /tu: ˈrɪkɔːd/. Hay a present được đọc là /ə pre' zənt/ nhưng to present được đọc /tu: prɪ 'zənt/.

Cre: Pinterest

Để có thể nói tiếng Anh chính xác và lưu loát, chúng ta nên học cách phát âm, cách nhấn trọng âm của các âm tiết, cách nhấn trọng âm của từ trong các cụm từ và câu hay ngữ điệu.

Đối với phát âm bạn nên nghiên cứu kỹ hệ thống phiên âm quốc tế, và nắm vững thông tin quan trọng và căn bản như:

-  Bảng chữ cái của tiếng Anh có 26 chữ cái nhưng có 44 âm.

-  Một chữ cái của bảng chữ cái tiếng Anh có thể đại diện cho nhiều âm khác nhau. (Ví dụ: chữ cái nguyên âm “a” trong từ “make” – /meik/ được phát âm là /ei/, nhưng trong từ mad /mæd/ lại được phát âm là /æ/).

-  Một âm có thể đại diện cho nhiều chữ cái. (Ví dụ: chữ cái "e" trong từ "new"/nu:/ được phát âm là /u:/, đồng thời chữ cái "u" trong từ "rude" /ru:d/ cũng được phát âm là /u:/).

-  Các âm của tiếng Anh bao gồm nguyên âmphụ âm.

-  Phụ âm được chia thành 3 loại: phụ âm hữu thanh (/b/, /d/, /g/, /dʒ/, /v/, /ð/, /z/, /ʒ/) , phụ âm vô thanh (/p/, /k/, /f/, /t/, /s/, /θ/, /ʃ/, /tʃ/) và các phụ âm còn lại (/m/, /n/, /η/, /h/, /l/, /r/, /j/, /w/).

-  Có 2 loại nguyên âm: nguyên âm đơn (/i/, /e/, /ʊ/, /ʌ/, /ɔ/, /ə/) và nguyên âm đôi (/ir/ or /iə/, /er/ or /eə/, /ei/, /ɑi/, /ʊə/ or /ʊr/, /ɑʊ/, /ɔi/, /əʊ/).

-  Nguyên âm đơn lại bao gồm nguyên âm ngắn (/i/, /e/, /ʊ/, /ʌ/, /ɔ/, /ə/) và nguyên âm dài (/i:/, /æ/, /u:/, /a:/, /ɔ:/ or /ɔ:r/, /ɜ:/).

-  Hữu thanh: khi phát âm tạo ra âm thanh một cách rõ ràng.

-  Vô thanh: khi phát âm sẽ phát tạo ra 1 luồng hơi và sẽ không tạo âm thanh.

-  Tất cả các nguyên âm đều là hữu thanh.

...

Cre: Unplash

Sau khi đã hiểu về các nguyên tắc phát âm thì tôi sẽ áp dụng nó vào cách học của mình để không những vừa cải thiện khả năng phát âm mà còn cả những kỹ năng khác nữa:

Tôi thường học tiếng Anh qua sách Song ngữ Anh-Việt, đó là những cuốn sách liên quan đến công việc và sở thích hiện nay của tôi hoặc những chủ đề mà tôi muốn cải thiện, ví dụ như về kinh doanh, thuyết trình, sức khỏe, chăm sóc da .... Nội dung những quyển sách thường được trình bày dưới dạng các cuộc đối thoại, hoặc đoạn văn ngắn.

Đầu tiên tôi sẽ viết từng bài đối thoại vào một quyển vở, khi viết như vậy tôi sẽ biết được mình hiểu nội dung của nó đến mức nào, có nhiều từ mới không, cách các từ ngữ được sắp xếp trong một câu, ... Sau đó, tôi sẽ tra từ mới, tôi sử dụng hai từ điển Anh-Anh và Anh-Việt, chúng đều là từ điển có kèm phần mềm phát âm.

Đối với từ điển Anh-Việt, tôi dùng nó để hiểu từ theo nghĩa tiếng Việt, còn từ điển Anh-Anh tôi dùng để biết từ này có nghĩa tương đương với từ nào mà tôi đã biết. Ví dụ: scent (n) /sent/: mùi hương (similar to perfume). Tôi sẽ nghe từ điển phát âm từ đó và cố gắng bắt trước cho giống. Tôi sẽ ghi chú những nội dung này bằng bút chì dưới từ đó (trong vở) và highlight bằng mực khác màu. Chúng giúp tôi ở bước tiếp theo đó là dịch và nói thành tiếng: tôi sẽ dịch và đóng thành từng nhân vật trong đoạn đối thoại cố gắng điều chỉnh ngữ điệu và lên xuống giọng phù hợp với nội dung của từng nhân vật. Nếu chưa dịch hay và trôi chảy hoặc chưa thực sự hiểu ý của đoạn nào đó tôi sẽ xem phần dịch của sách. Đó là cách học hiện nay của tôi.

Ngoài ra, để có thể phát âm chính xác tôi thường nghe người bản xứ nói qua các video trên Youtube, tôi sẽ lặp lại theo video cũng như cố gắng bắt chước giọng của nhân vật. Tôi sẽ chọn các video có nội dung tôi thích và đang quan tâm để luyện vào lúc mới nghe. Ví dụ, tôi thích nội dung về chăm sóc da nên tôi nghe các video chăm sóc da của người nổi tiếng trên tạp chí Vogue. Chúng vừa giúp tôi luyện nghe và phát âm, ngoài ra cũng có nhiều bí quyết về chăm sóc da mà tôi có thể áp dụng.  Và để thực sự áp dụng tôi cần phải hiểu nội dung đó vì thế tôi cảm thấy thoải mái khi tìm hiểu và tra cứu các từ mới.

Cre: Pinterest

Điều quan trọng hơn cả trong việc học ngôn ngữ là phải có tính kiên nhẫn. Nếu bạn luyện tập đều đặn, thường xuyên rèn luyện ngôn ngữ đó, và sử dụng nó trong các cơ hội phù hợp thì khả năng của bạn sẽ được cải thiện.

Elisa